ẢNH TƯ LIỆU

Danhsachhoivien

Diễn đàn :: Giải trình và lắng nghe thị trường

(Nguoiphutho.com) Theo ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, để giành lại niềm tin của thị trường, giúp ổn định kinh tế vĩ mô, hơn lúc nào hết, giờ đây thông điệp chính sách của Chính phủ phải thật sự rõ ràng.

Kinh tế thế giới năm 2011 đang nhận được nhiều dự báo kém tích cực hơn. Sự kém tích cực này ngày một gia tăng do tính bất định của bất ổn vĩ mô vẫn chưa được giải quyết do các cuộc họp của G20 không đưa ra được chính sách nào cụ thể. Quốc gia nào cũng lo ngại đồng tiền lên giá quá mức, giảm sức cạnh tranh, dẫn đến tình trạng "chạy đua đưa đồng tiền về đáy". Bất ổn này cũng được cho là nguyên nhân làm cho các luồng vốn ngắn hạn đang đổ về các nước mới nổi.

Trong bối cảnh đó, các cam kết của Chính phủ Việt Nam về ổn định kinh tế vĩ mô đã mạnh hơn, nhưng vẫn chứa đựng tham vọng về tăng trưởng. Điều cần cẩn trọng là, chính tham vọng tăng trưởng đó có thể dẫn đến việc quay trở lại sự "giật cục" trong điều hành chính sách bởi những điều chỉnh quá mức như đã từng xảy ra trong thời gian qua. Chính vì vậy, trong năm 2011, quyết tâm ổn định kinh tế vĩ mô phải được hiện thực hóa một cách mạnh mẽ, hợp lý, theo nghĩa có sự phối hợp tốt hơn giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, cân nhắc tốt hơn giữa chính sách tiền tệ và điều tiết hệ thống tài chính ngân hàng.

Theo tôi, có ba vấn đề cần phải nhắc tới khi nói về kinh tế 2011.

Một là, tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng hơn, cạnh tranh hơn, thuận lợi hơn. Ví dụ như, giảm chi phí giao dịch thương mại qua cải cách hành chính, tiếp cận thị trường, thực hiện mở cửa thị trường theo cam kết hội nhập, ổn định kinh tế vĩ mô... Các yếu tố này nếu thực hiện tốt sẽ khiến nguồn lực được phân bổ hiệu quả, đến đúng đích và hạn chế tối đa những méo mó của thị trường.

Hai là, thông điệp của Chính phủ với thị trường phải rõ. Nếu chọn ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô thì có thể chấp nhận tăng trưởng giảm đôi chút, và trong ngắn hạn cũng phải chấp nhận sẽ có những khó khăn đối với doanh nghiệp. Nhưng cách đi này sẽ phù hợp với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển sang tăng trưởng ít bị lệ thuộc hơn vào đầu tư, cũng như tăng trưởng nhờ tăng cung tín dụng. Vấn đề là cần phải có minh bạch chính sách giữa chính phủ và doanh nghiệp để tìm được sự đồng thuận.

Ba là, sự nỗ lực từ bản thân các doanh nghiệp. Phải hiểu là chúng ta không thể tồn tại trong thế giới đang có sự thay đổi về tư duy phát triển, một thế giới cạnh tranh dựa trên chất lượng, hội nhập nếu như ta cứ giữ mãi sự cạnh tranh dựa trên đầu tư và dùng đầu tư để duy trì sự tăng trưởng, sự phát triển.

Nói cho cùng, tăng trưởng của doanh nghiệp và của nền kinh tế phải dựa vào việc tăng năng suất. Năng suất ở đây là năng suất tổng thể, liên quan đến kỹ năng quản lý, kỹ năng điều hành, công nghệ... Doanh nghiệp cũng chính là đối tượng có thể chung tay vào quá trình thay đổi hiện nay.  Điều quan trọng là chính môi trường vĩ mô tạo ra hành vi của doanh nghiệp, gây áp lực để doanh nghiệp thay đổi, thích ứng với các yêu cầu mới. Điều này cũng có nghĩa, trong bối cảnh hiện tại, cần phải có sự phối hợp giữa ý chí chính sách và nghệ thuật điều hành để đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.

Nếu đã lựa chọn mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, phải xác định mục tiêu chính sách một cách rõ ràng. Khi đó, cần phải chú ý đến các vấn đề sau:

Vấn đề cần là minh bạch chính sách giữa chính phủ và doanh nghiệp để tìm được sự đồng thuận

Thứ nhất, công cụ chính sách tiền tệ có thể sử dụng, có thể là công cụ tái chiết khấu, công cụ thị trường mở, thậm chí cả công cụ hành chính khác để đạt mục tiêu. Vấn đề ở chỗ là xác định mức độ, liều lượng của các công cụ được lựa chọn trên cơ sở mối quan hệ với các chính sách khác, công cụ của các chính sách vĩ mô khác. Lâu nay, việc xác định mức độ, liều lượng này của chúng ta còn thiếu ăn ý, dẫn đến căn bệnh kinh niên là chính sách tiền tệ cứ loay hoay trong khi chính sách tài khóa lại được mặc định là cố định. Nếu chúng ta có kỷ luật ngân sách hơn thì có thể sẽ không cần quá thắt chặt tiền tệ như vậy nhưng tổng cầu vẫn giảm, áp lực lên lạm phát sẽ giảm, doanh nghiệp đỡ phải gánh chịu áp lực nặng nề như thời gian vừa qua.

Thứ hai, là cơ chế lan truyền chính sách. Hiện tại, Việt Nam có nghiên cứu về cơ chế này nhưng chưa thực sự quan tâm đầy đủ, chưa thực hiện tốt công cụ này. Điều này đã hạn chế khả năng giải trình của chúng ta với thị trường, làm cho thị trường có những tranh luận thiếu cơ sở khoa học do thiếu thông tin, gây áp lực trở lại cho chính sách. Trong cuộc chạy đua lãi suất của các ngân hàng vào năm 2010, có thể đặt giả thiết rằng, nếu hệ thống ngân hàng cạnh tranh lành mạnh, quản trị rủi ro tốt thì sẽ không dẫn tới tình trạng bị sai lệch về cơ cấu thời hạn, cơ cấu đồng tiền; nếu Ngân hàng Nhà nước thực hiện vai trò giám sát tốt thì đã không xảy ra các vòng xoáy về cuộc chạy đua lãi suất do thiếu thanh khoản...

Thứ ba, độ trễ của các tác động chính sách rất khác nhau giữa chính sách tiền tệ và tài khóa. Chính sách tiền tệ quyết được ngay. Còn chính sách tài khóa, ở nước nào cũng vậy, đều phải tuân thủ những quy trình khá phức tạp, mất thời gian. Do vậy, chính sách tài khóa thường có độ trễ. Tuy nhiên, tác động trên thực tế của chính sách tài khóa lại nhanh, mạnh hơn. Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế thường có độ trễ từ 6 tháng đến 1 năm. Trong quá trình thực thi chính sách, bộ máy điều hành chính sách cần phải lắng nghe phản hồi của thị trường để có những điều chỉnh phù hợp.

Nguồn: Quốc Việt - Doanh nhân