ẢNH TƯ LIỆU

Danhsachhoivien

Tinh hoa đất tổ :: Lễ cấp sắc của người Dao Tiền

(Nguoiphutho.com) Định cư trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có hai nhóm người Dao: Dao Tiền và Dao Quần Chẹt. Người Dao ở bản Hạ Thành thuộc nhóm Dao Tiền. Theo các nhà nghiên cứu dân tộc học, người Dao cư trú ở Phú Thọ được di cư từ các tỉnh miền Nam Trung Quốc: Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam, sang bằng đường thuỷ từ thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XIX.

Trong xã hội - gia đình, người Dao ở Phú Thọ nói chung và người Dao ở bản Hạ Thành nói riêng vẫn duy trì tục làm lễ cấp sắc - Lễ đặt tên thánh sư (tên âm) cho con trai người Dao đến tuổi trưởng thành. Lễ cấp sắc (còn gọi là lễ lập tỉnh, lễ chẩu đàng). Tiếng Dao gọi là "Quá tăng, Tẩu sai hay là Phùn voòng" dịch sang tiếng Việt là cấp đèn. Lễ cấp sắc của người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn được tổ chức vào tháng 11, 12 hoặc tháng 1, 2 (âm lịch) hàng năm; được tổ chức tại gia đình người được cấp sắc, mời dân làng đến giúp hành lễ và mở hội cho cộng đồng ngay tại nhà mình.

Cấp sắc không chỉ là một tục lệ rất phổ biến mà còn là bắt buộc đối với tất cả mọi đàn ông người Dao. Đây là nghi lễ quan trọng nhất trong tín ngưỡng vòng đời của người Dao. Đối với dân tộc Dao, người nào được cấp sắc thì mới có thể làm nghề cúng bái là điều mà người Dao rất quan tâm. Người nào được cấp sắc sau này chết, hồn mới được về đoàn tụ với tổ tiên. Cấp sắc cũng còn có nghĩa là lễ "khai sinh" hay lễ nhận lấy tên của thánh thần ban định cho, cho nên những bản cấp sắc còn có ý nghĩa như là một "giấy thông hành" để sau khi chết có thể về ngay thế giới bên kia mà không phải qua kiếp bị đoạ đầy ở âm phủ. Người nào được cấp sắc mới được xã hội coi là người lớn, người chưa được cấp sắc dù tuổi có già cả như thế nào đi nữa vẫn bị coi là trẻ con, và khi chết thì hồn chỉ được đưa về đến động Đào - hoa Đào - hoa Lâm - châu, không thể đưa về Dương Châu được. Đồng bào Dao có lòng tin sâu sắc rằng được cấp sắc thì làm ăn mới được may mắn, sinh hoạt mọi mặt mới được thuận lợi, dòng họ dân tộc mới phát triển. Vì thế, dù tốn kém như thế nào người Dao cũng tổ chức bằng được nghi lễ này.         

Người ta làm lễ cấp sắc lần lượt theo thế hệ và thứ bậc: Ông, bố, anh, em... Độ tuổi được cấp sắc của người Dao Tiền là từ 12 đến 16 tuổi trở lên và chỉ cấp sắc cho con trai chưa có vợ, (còn người Dao Quần Chẹt độ tuổi từ 10 tuổi trở lên và chỉ cấp sắc cho con trai đã có vợ).

Trong tục cấp sắc có các cấp bậc thụ phong như sau:

- Quá tăng: Là bậc đầu tiên của cái thang cấp sắc, tất cả đàn ông người Dao đều phải qua bước này. Trong lễ "Quá tăng" người ta chỉ được cấp 3 đèn và 36 binh mã.

- Thất tinh là lễ cấp 7 đèn và 72 binh mã.

- Cửu tinh là bậc được thăng 9 đèn, còn số binh mã vẫn như ở bậc Thất tinh.

- Thập nhị tinh còn gọi là bậc "Tẩu slai" là bậc cao nhất được cấp 12 đèn và 120 binh mã.

Mỗi lần được thăng chức, nghĩa là được "Cấp thêm đèn" và "Tăng thêm âm binh" là một lần phải kèm theo một nghi lễ. Người ta có thể làm lễ "Quá tăng" cho nhiều người trong một dòng họ cùng một lúc. Nhưng trong các lễ thăng chức chỉ có thể "Thăng chức" cho một người. Tuy nhiên, trong cùng một lần cấp sắc, người ta có thể phong chức cho những người ở cấp bậc khác nhau. Nhìn chung, số người được cấp 7 đèn và 72 âm binh (bậc Thất tinh) không phải là nhiều, trong một xã có độ 4, 5 người là cùng; những người được cấp 12 đèn và 120 binh mã, tức là đã qua lễ "Tẩu slai" lại càng hiếm, có khi cả vùng mới có 1, 2 người.   

Cũng như các nghi lễ lớn khác, để làm lễ cấp sắc phải có một quá trình chuẩn bị:

- Chuẩn bị các vật hiến tế:

+ Để chuẩn bị cho lễ Chẩu Đàng, gia chủ phải nuôi 2 con lợn để tế thần, được gọi là "lợn thần" và phải nuôi từ 1 - 2 năm trước để có khoảng 100kg; phải nuôi "lợn thần" ở nơi kín đáo để tránh mọi lời khen chê.

+ Khoảng 2 tạ gạo, đủ ăn cho tất cả mọi người có mặt trong những ngày lễ (5 ngày, gồm 1 ngày chuẩn bị, 3 ngày lễ chính, 1 ngày thu dọn).

+ Gạo nếp để đồ xôi, giã bánh giày, làm bánh trôi và gạo gói bánh chăng (là loại bánh gió gạo nếp trong lá chít, rồi đồ lên để cúng). Trên bàn thờ còn có 8 gói xôi to và 10 lá chít đựng 7 miếng xôi con bé tí tẹo màu trắng được gọi là bánh.

+ 40 nắm gạo tẻ trắng, khoảng 40 vuông vải trắng cùng một số tiền tương ứng với 3000đ hoặc 4000đ  x 40 = 160.000đ hoặc 120.000đ. Ngoài ra còn một số gạo tẻ khác nữa.

+ Gà trống: 7 con .

+ Thịt sóc sấy khô: Đủ 3 bát, kèm 3 bát rau xanh

+ Hương đốt: Một loại vỏ cây lấy từ cây "Hung đang", khi dùng cho vỏ cây đó vào bát, trong bát đã có than củi đốt sẵn, truyền lửa âm ỉ sang loại vỏ cây này, từ vỏ cây đó bốc lên một làn khói như hương.

+ Rượu: Đủ để cúng và người dự lễ dùng tự do trong suốt thời gian hành lễ.

+ Các "cum" (túm) lúa để làm lễ cúng "triệu hồn lúa".

+ Vải trắng mới: Mươi sải. 

+ Giấy bản mới để viết sớ, tấu, làm cờ và in tiền giấy, bùa, chú.

+ Chiếu mới: 1 đôi.

+ Rơm sạch.

+ Tiền xu (nhôm, bạc), hay tiền đồng.

- Những thầy cúng chủ trì và giúp việc:

+ Ba ông thầy cúng chính: Thầy cả, thầy hai, thầy ba.

+- Những người giúp việc: Có từ 5 tới 7 người giúp việc (gọi là chầu) và đều là đàn ông.

- Những điều kiêng kỵ - trai giới - chay tịnh:

+ Trai giới - chay tịnh:

+ Đối với các thầy tào (thầy cúng), trước và sau khi khi hành lễ cấp sắc trong khoảng thời gian 90 ngày (3 tháng) đều phải trai giới, không được sinh hoạt tình dục.

+ Từ lúc đi mời thầy tào làm lễ theo thời điểm đã định, thì vợ chồng người được cấp sắc không được ngủ với nhau. Trong thời kỳ trai giới đó, cấm những người khác giới không được đụng chạm vào người vợ hoặc chồng, hạn chế nói chuyện, cấm ăn tục, nói khoác.

+ Trước khi nhập lễ: Người được thụ sắc phải tắm sạch sẽ. Đối với vợ của người thụ sắc cũng phải tắm rửa sạch sẽ, mặc y phục mới (như cô dâu).

- Kiêng kỵ: Trong những ngày hành lễ, người đến dự rất đông, nhưng từ gia chủ cho đến khách khứa đều tuân thủ những điều cấm: Cấm sát sinh, đánh đấm, chửi mắng, cằn nhằn, ồn ào, nói to.

Nội dung chính buổi lễ cấp sắc "Quá tăng" tiến hành theo trình tự sau đây:

Chọn được ngày tốt, người ta bắt đầu làm lễ cấp sắc. Khi làm lễ cấp sắc, hai gian nhà giữa trở thành đại đường. Các thầy cúng, trước hết phải lập đàn, tẩy uế, đánh 4 hồi trống để thỉnh các thánh thần và gia tiên đến dự lễ, sau đó làm lễ "Thả tranh" (tức treo 2 bộ tranh Tam thanh lớn và Tam thanh nhỏ) và báo cáo lý do buổi lễ cho các thần thánh biết.

* Lễ trình diện: Hai thầy chính và người thụ lễ cấp sắc quỳ trvớc bàn thờ Tam Thanh và bắt đầu hành lễ. Một thầy chính một tay cầm chuông rung theo nhịp nhảy múa, một tay cầm thanh kiếm và miếng gỗ hương nhảy múa vài vòng xung quanh những người trước bàn thờ, rồi trao thanh kiếm và miếng hương cho những người thụ sắc. Người thụ sắc nâng thanh kiếm và miếng hương bằng cả hai tay nhảy vài vòng quanh lễ đường, rồi quỳ xuống trước bàn thờ. Lần lượt các người thụ sắc làm như vậy, mỗi người tới 7 lần.

Trong lễ trình diện, thầy cả đọc sớ kể lai lịch của những người được cấp sắc (kể rõ họ tên, tuổi, con cháu của ai, quê quán...), đồng thời kính cáo trước Tam Thanh Đường về lai lịch, cấp bậc, nhiệm vụ của các thầy chính lễ cùng các phụ lễ, giúp việc.

* Lễ cấp tinh (Lễ lên đèn): Người được cấp sắc ngồi trên chiếc chiếu trải sẵn trước bàn thờ tổ tiên và đàn cúng. Ông thầy cả và thầy 2 bắt đầu làm phép, sau đó thầy cả đặt đèn thứ nhất lên đỉnh đầu người được cấp sắc, thầy hai và bố đẻ đặt đèn thứ hai và thứ 3 lên hai vai người được cấp sắc. Có nơi, khi làm lễ cấp tinh (lên đèn) người được cấp sắc quỳ trước đàn cúng, 2 tay giữ một chiếc giá hình chữ thập. Thầy cả, thầy hai và bố đẻ của ngvời được cấp sắc đặt đèn lên chiếc giá ấy (tương ứng với đỉnh đầu và hai vai). Sau đó thầy cả làm phép, thầy hai đọc các bản sắc và những điều thề nguyện và những điều răn. (Chính vì thế mà gọi là tục cấp sắc). Trong bản sắc có ghi rõ họ tên, tuổi người được cấp sắc, ngày và nơi cấp sắc, do ai cấp sắc cho. Những bản sắc viết thành 2 bản, 1 bản người được cấp sắc giữ, 1 bản đốt sau khi đọc xong. Khi người được cấp sắc chết, thì người ta đốt bản cấp sắc còn lại làm giấy thông hành sang bên kia thế giới.       

* Lễ hạ đèn và giao quân: Sau khi răn dạy và làm lễ thề nguyện cho người được cấp sắc, các thầy tào bắt đầu làm lễ giao quân. Người phụ lễ hạ đèn, đặt lại trên bàn thờ Tam Thanh. Người thụ lễ vẫn ngồi trên ghế. Người ta lấy tấm vải trắng trước khi vào lễ cấp sắc các thầy đã làm phép, thầy cả giữ một đầu, người được cấp sắc giữ đầu kia, người ta bỏ một ít gạo và vài hào bạc trắng lên trên tấm vải. Thầy hai làm phép, dùng gậy "Tầm xích" nâng tấm vải lên làm những hạt gạo và những hào bạc dồn về hai đầu của tấm vải, tức dồn về phía thầy cả và người được cấp sắc, và lấy kéo cắt đôi tấm vải, đó gọi là lễ cấp âm binh. Người cấp sắc giữ lấy nửa tấm vải cùng với những hào bạc ấy, còn thầy cả giữ nửa tấm vải kia để làm mũ hoặc quần áo tặng cho (ban cho) những người được cấp sắc trong những dịp khác.

* Lễ qua cầu: Các thầy tào lấy 7 đồng bạc trắng xếp thành một hàng trước bàn thờ tổ tiên và đàn cúng. Thầy cả dắt người được cấp sắc vừa đi vừa khấn qua 7 đồng tiền tượng trưng cho chiếc cầu ma nối liền hai thế giới âm và dương. Lễ qua cầu này có ý nghĩa là hướng dẫn cho người được cấp sắc biết được đường sang bên âm để sau này có cúng bái thì biết được đường sang bên ấy để cầu viện sự giúp đỡ của thần thánh.

* Lễ đặt tên: Lễ sau cùng là lễ đặt tên cho người được cấp sắc. Thầy tào viết tên định đặt cho người được cấp sắc vào một tờ giấy rồi đặt vào đàn cúng, sau đó cúng và xin âm dương. Nếu được quẻ thuận, tên đó coi như được thần thánh công nhận. Nếu không thuận phải xin tên khác, chừng nào quẻ thuận mới thôi. Từ đó, người được cấp sắc trở thành môn đệ của nghề cúng bái và có quyền đi cúng.

Sau nghi lễ cuối cùng này, gia chủ mở tiệc cơm rượu khoản đãi mọi người trong nhà, hàng xóm, họ hàng thân cận giúp đỡ trong những ngày lễ vừa qua. Đó cũng là sự tạ ơn đầy tình nghĩa họ hàng, anh em, xóm giềng.

Sau lễ "Quá tăng", các lễ cấp sắc khác nhằm "Thăng chức", tức là "Tăng số đèn, số âm binh" cho những thầy cúng ở bậc cao hơn, có những nghi lễ phức tạp hơn nhiều. Ví dụ, lễ tăng 7 đèn và tăng 72 binh mã "Thất tinh", ngoài những bước chuẩn bị, những công việc mở đầu cho buổi lễ như khi cấp sắc hoặc khi làm những nghi lễ lớn, còn có những nghi lễ sau đây:

- Lễ lên đèn: Người được tăng 7 đèn ngồi trước đàn cúng và bàn thờ tổ tiên theo kiểu "chống chổi". Bảy thầy tào, mỗi người đặt một đèn lên người được "thăng cấp". Ông thầy chủ đám đặt đèn lên đầu, các thầy khác lần lượt đặt lên hai vai, hai đầu gối (hay đặt lên hai mu bàn chân) và lên hai mu bàn tay.

- Lễ ban mũ: Lễ ban mũ thầy cúng có thêu hình ba thánh là Tam thanh hay Tam bảo cho người được cấp thất tinh.

- Lễ trình diện Ngọc Hoàng: Sau khi lèm lễ lên đèn, người ta dựng một chiếc sàn cao độ 2, 3 mét ở ngoài sân và bắc một thang Dao lên sàn. Thầy chủ đám và thầy hai dẫn người được cấp thất tinh lên sàn qua thang Dao. Thầy hai lấy tù và thổi 3 hồi gọi là để thỉnh Ngọc Hoàng xuống chứng giám. Trong lúc đó người được cấp thất tinh nằm sấp trên sàn, thày chủ đám và thầy hai đứng hai bên người được cấp thất tinh và kể lai lịch của người được cấp thất tinh, và sau đó hai thầy tào xin Ngọc Hoàng trao ấn cho người ấy. Đồng thời 5 ông thầy nữa lên sàn cúng cùng với thầy cả và thầy hai nhẩy múa xung quanh người được cấp thất tinh gọi là làm lễ trao ấn, (trên ấn có khắc mấy chữ: Thái thượng Lão quân. ấn này được gói kỹ trong một chiếc khăn đỏ). Người được cấp thất tinh còn phải qua một "thử thách" nữa là phải ngã lăn xuống sàn để tỏ "lòng dũng cảm". (Thật ra ở dưới sàn người ta đã để sẵn một đống rạ, hay dăng lưới đan bằng dây rừng để đỡ người được cấp thất tinh).

- Lễ tơ hồng: Khi tất cả mọi người đã vào nhà, người được tăng 7 đèn (được cấp thất tinh) vẫn phải đừng ở ngoài cửa chờ người vợ của mình đi ra để làm lễ "Tơ hồng", tức là để thần thánh công nhận đó là hai vợ chồng, sau này có "về bên âm" hai vợ chồng mới được sống vĩnh viễn với nhau. Hai vợ chồng đứng cạnh nhau, các thày tào lấy một băng dây vải đỏ vắt qua vai hai người và đọc một bài cúng đã viết sẵn. Bài cúng này được viết thành hai bản (gửi cho thần thánh) sau khi đọc, một bản hai vợ chồng giữ, người nào chết sau sẽ mang theo về bên âm tìm người đã "đi về" trước để được vĩnh viễn sống với nhau ở thế giới âm hồn.

- Lễ thăm Thiên đình: Là lễ đưa hồn người được cấp Thất tinh lên thăm Thiên đình (tức chỗ ở của Ngọc Hoàng thượng đế và các thần thánh hầu cận của Ngọc Hoàng). Người ta trải một chiếc chiếu trước đàn cúng, có rơm đệm, đặt vào đó một chiếc lồng con trong đó có 7 chiếc chén và một ít giấy (tiền ma) để đốt. Thầy chủ đám dẫn người được cấp Thất tinh đứng vào giữa chiếu. Trống, thanh la, não, bạt, kèn...nổi lên, bảy ông thầy tào xúm lại đu người được cấp Thất tinh cho đến khi anh ta bị ngất, lúc ấy người ta cho rằng hồn của người được cấp Thất tinh đã bắt đầu bay lên thiên đình. Bảy ông thầy tào đặt người được cấp Thất tinh nằm sấp trước bàn thờ tổ tiên và đàn cúng, gối đầu lên chiếc lồng đã đặt sẵn ở đấy. Sau đó, ông thầy chủ đám mang quyển sách "Quá tang slâu" (sách cấp sắc) ra đọc. Đọc xong quyển sách ấy cả 7 thầy tào nhảy múa xung quanh người được cấp Thất tinh đang "mê man" nằm đó, rồi thầy chủ đám làm phép nâng người được cấp Thất tinh dậy, tức là làm lễ đưa hồn người đó trở về dương gian sau khi đã đi thăm Thiên đình.

Nói đến tục cấp sắc của người Dao, cần phải lưu ý thêm một điểm nữa là nếu trong gia đình có người đã chết mà chưa được cấp sắc thì con cháu phải làm lễ cấp sắc cho người đã chết trước khi làm lễ cấp sắc cho mình. Lễ cấp sắc cho người đã quá cố được tiến hành như sau: Trước hết thầy chủ đám đi vào một khu rừng nào đó làm một lễ cúng gọi là xin bà chúa Hoa lấy hồn người đã quá cố về nhà đẻ làm lễ cấp sắc. Người ta lấy giấy đỏ cắt thành hình nhân cắm vào bát gạo và đem về nhà. Khi hồn của người quá cố "về đến nhà", mọi người trong gia đình, tức, con cháu, dâu, rể phải ăn mặc chỉnh tề quỳ đón ở trước cửa. Sau đó người ta làm lễ cấp sắc, tức là công nhận hồn người quá cố là người lớn, và đưa hồn quá cố về Dương - châu đoàn tụ với tổ tiên. Từ đó, hồn người quá cố trở thành tổ tiên và được con cháu thờ cúng.

Lễ cấp sắc là một lễ thụ giới tôn giáo có những quy trình lễ thức chặt chẽ, điều này thể hiện rất rõ ràng: Ai muốn làm thầy cúng (thầy tào) thì nhất thiết phải qua lễ cấp sắc. Lễ cấp sắc là một lễ thành nhân, ai đã qua lễ cấp sắc mới được coi là người lớn. Người đàn ông dân tộc Dao phải qua lễ cấp sắc để tiếp nhận chính thức sự lưu truyền sức sống của người Dao, tạo cho sức sống của đạo (Đạo giáo) và đời (dân tộc Dao) có sự kế tục lâu dài. Người con trai trải qua lễ cấp sắc là có đầy đủ tư cách pháp nhân trước thần quyền và trước công luận (cả trong xã hội, gia đình và cộng đồng dân tộc), được công nhận như một người Dao chính thức.   

Trong lễ cấp sắc, cùng với các nghi lễ, thủ tục rườm rà, phức tạp phục vụ cho tôn giáo, tín ngưỡng, còn diễn ra các hoạt động mang tính cộng đồng, mang màu sắc văn nghệ, vui vẻ. Tất cả mọi người trong buổi lễ cùng nhau ăn uống, nhảy múa vui vẻ. Múa trong khi lễ cấp sắc gọi là "Miến chảu đàng".     

Bên cạnh những giá trị đạo đức, giá trị văn hoá, giá trị cộng đồng, trong thực tế lễ cấp sắc còn có những hạn chế như: Tốn kém tiền của, cần nhiều người để phục vụ, tốn rất nhiều công sức; thời gian kéo dài... ảnh hưởng đến sức khỏe, sản xuất và sinh hoạt của nhân dân; có những phần tạo điều kiện cho những hệ tư tưởng mê tín dị đoan phát triển; các tục lệ cúng bái, kiêng kỵ rất phức tạp...Đây là vấn đề cần quan tâm trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc Dao nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung.

Tuy nhiên, lễ cấp sắc được bà con người Dao ai cũng náo nức chờ đón và trong suốt qúa trình trình hành lễ, bà con bản làng và các vùng lân cận đến tham dự rất đông. Lễ cấp sắc là hiện tượng phổ biến trong sinh hoạt xã hội của người Dao, có liên quan đến ý niệm tôn giáo, tinh thần đạo đức, sản xuất và sinh hoạt hằng ngày của mọi người. Bên cạnh nội dung lời cúng có bao hàm ý nghĩa giáo dục lịch sử dân tộc, đạo đức, nhân cách con người phù hợp với tư tưởng, tình cảm, phong tục, tập quán, dân tộc, thì lễ cấp sắc đã huy động tổng hợp các loại hình nghệ thuật  để phục vụ cho mục đích tôn giáo, hành vi  tín ngưỡng. Kiến trúc, mỹ thuật, âm nhạc, tụng ca, thánh ca, diễn xướng (bao gồm: Nhảy múa, trình tự trình diễn lễ nghi...) đều hoà quyện vào nhau, đổi thay rất phong phú, đa dạng và hấp dẫn trong hàng loạt lễ nghi. Trong lễ cấp sắc có điệu múa chuông trang trọng, khoẻ khoắn, rộn ràng và vui tươi, đã được khai thác, chỉnh biên, biên đạo để phục vụ đời sống tinh thần, sinh hoạt văn hoá của đông đảo đồng bào trong và ngoài nước. Không diễn ra trong khung cảnh nghi lễ tôn giáo, mà vẫn được nhiệt liệt hoan nghênh, chứng tỏ giá trị nghệ thuật múa của dân tộc Dao.  

Như vậy, có thể nói, lễ cấp sắc của người Dao Tiền bản Hạ Thành (Tân Lập) xét về mặt đại thể, lễ cấp sắc mang nhiều yếu tố nhân văn, văn hoá. Nó có ý nghĩa giáo dục con người sống có đạo đức, có nhân cách, có trách nhiệm với gia đình và cộng đồng. Đồng thời, qua lễ cấp sắc, ý thức cộng đồng được nêu cao. Vì vậy, cần phải phát huy những giá trị văn hoá của tục cấp sắc. Lễ cấp sắc cần được gìn giữ một cách thiết thực, phù hợp với nhân sinh quan và xã hội của đồng bào Dao để phục vụ lợi ích giáo dục con người trong cộng đồng dân tộc.

Nguồn: Theo Cổng Giao tiếp điện tử Phú Thọ