ẢNH TƯ LIỆU

Danhsachhoivien

Tinh hoa đất tổ :: Lễ hội cồng chiêng tộc người Mường tỉnh Phú Thọ

(Nguoiphutho.com) Trong kho tàng văn hoá dân gian của tộc người Mường tỉnh Phú Thọ hiện còn lưu giữ rất nhiều những di sản văn hoá phi vật thể như hát Rang, hát Ví, hát Ru, hò Đu, hát Mỡi, múa Mỡi, múa trống Đua (múa Sênh Tiền), giã Đuống, chạm ống, đánh trống đồng, ném còn, chơi đu trà, đu tiên, chơi trống đất, thổi kèn Bỉ Đang . Trong đó có một loại hình nghệ thuật không thể thiếu được trong dịp lễ Tết, mùa xuân, lễ hội, lễ mừng thọ, lễ hạ điền... đó là nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng, đây là di sản văn hoá truyền khẩu rất độc đáo tiêu biểu của người Mường Phú Thọ nói riêng và người Mường trên đất nước Việt Nam nói chung.

Vào dịp hội hè đình đám, bản Mường mời một mo Mường cao tay, uy tín, khoẻ mạnh, gia đình đề huề, nhà không có tang, mo đứng ra để làm lễ "Cấm tứ phương" cho bản. Mo cầu thần linh, thổ địa, Thành hoàng làng về phù hộ cho bản Mường được yên vui, nhà nhà được ấm no hạnh phúc, cây cối nảy lộc đâm chồi, mùa màng sinh sôi, mo Mường khấn nguyện, cầu chúc và xua đuổi tà ma không cho tà ma về phá đám cuộc vui của trai làng, gái bản trong "Lễ hội cồng chiêng" rồi Mo Mường xin âm dương và reo quẻ lời khẩn nguyện được như ý, thần linh, thổ địa, Thành hoàng làng che chở.

Lễ "Cấm tứ phương" là một lễ quan trọng thường được tổ chức vào mùa xuân hàng năm. Đồ lễ trên ban thờ gồm 12 miếng lá thay làm đĩa, mỗi miếng lá có bày một miếng thịt, một nắm xôi, một nhúm muối, một thanh của làm bằng gỗ trẩu, chính giữa có nồi cháo, miệng nồi bịt giấy, bốn hướng cắm bốn lá cờ nhỏ xung quanh nồi cháo, có một bát nước, một cơi trầu và một số thẻ hương.

Thầy Mo trang phục là bộ quần áo đen hoặc nâu, đầu thắt khăn quẻ dìu, có một chiếc quạt mo cau, một đĩa nhỏ, hai đồng tiền chinh, một thanh tre để gõ vào đĩa làm lệnh.

Bài cúng

Thiêng lang thiêng lái, chắp thưng láy hục

Ông quan thần linh thổ địa, thần vồng trất tứ

Bình đào, bình lấn, thành hoáng lang

Tất ổ ven co tông ni, hôm nay ngày ni là

ngày....tháng.....năm.......

Lông cậu ngay thôi, ngay leng triếng tro mỏ quà

Vơ hối vui mừng mùa xuân năm sớm

Chơi pơi pởi rấng, hôm nay có mưa pủn

Tôi mái ta a la, mừng la ha tôi ta chẩn lẩn

Tảng lửng, tồng reo luống hạt, tảng luổng hạt

Tùng ưng đông, tề leo cồng chiêng cho na ánh leng

Le khoẻ khoắn, hết tầng ni, ti ngay khác

Già bông tre, pủn góc nhà, pa góc cửa

Túng tê ma khôn, tiếng la tai quải, ma giái tiểng phá đám

U tê cho áu la tiểng pui, tiểng hay ma la thiêng liêng

Một dàn cồng chiêng ít nhất là có bốn người đánh gồm 5 chiêng một người đánh côồng đôi (được gọi là chiêng vặn). Thường thường một dàn chiêng có từ 7 đến 9 chiếc, nhưng đầy đủ nhất vẫn là 13 chiếc số người diễn tấu côồng chiêng bao giờ cũng là một nửa nam, nửa nữ thể hiện thuyết cân bằng âm dương ngũ hành.

Côồng chiêng được đúc bằng đồng đỏ pha trộn với một tỷ lệ thiếc nhất định một bộ côồng chiêng có nhiều kích thước to nhỏ khác nhau để có một bộ côồng chiêng chuẩn mực về âm sắc, cái khó nhất là lấy tiếng (hay còn gọi là định âm). Có thể định âm theo các phương pháp: Định âm theo bảy nốt nhạc (Đô rê mi fa son la si), định âm theo ngũ cung và cách định âm theo dân gian ví dụ: Các cụ đã chia các thang âm theo các thanh điệu như

Âm vực cao được đọc là: Pắng

Âm vực trung được đọc là: Poong

Âm vực trầm được đọc là: khình

do vậy các bài đánh cồng chiêng các cụ đã dạy bằng phương pháp truyền khẩu cho con cháu như: Poong Pắng Poong khình (bông trắng, bông vàng) hoặc Poong poong pắng, Khình poong Khình (chờ tôi với, đợi tôi cùng)...

Một chiếc Côồng chiêng cấu tạo gồm 4 phần: 1. Thành chiêng

2. Rãnh (làn khoai)

3. Bánh dầy

4. Núm chiêng

Để có một chiếc Côồng chiêng có độ vang ngân phụ thuộc vào kích thước và tỷ lệ pha trộn giữa thiếc và đồng đỏ, phần định âm các nghệ nhân dùng búa để dạt mỏng phần rãnh (làn khoai), bánh dầy và phần núm, đây là khâu quyết định quan trọng nhất trong việc hoàn thiện một bộ Côồng chiêng, vì lẽ đó nên ở các làng đúc đồng, người đúc Côồng chiêng rất nhiều nhưng các nghệ nhân định âm rất ít, đòi hỏi tai nhạc phải chuẩn, tay nghề phải cao. Giống với nghệ thuật diễn tấu côồng chiêng ở Tây Nguyên, côồng chiêng tộc người Mường tỉnh Phú Thọ cũng đều là kiệt tác truyền khẩu, có từ rất lâu đời, đó là khi đồ đồng  phát triển rực rỡ nhất.Côồng chiêng Tây Nguyên thì côồng có âm vực trầm như "Khình" chiêng có âm vực cao như "Pong". Tây Nguyên còn có cả chiêng bằng là chiêng không có núm. Còn côồng chiêng Phú Thọ không có chiêng bằng và điều hành toàn bộ phần diễn tấu là chiêng vặn (chiêng đôi, hai cái nhỏ có hai âm thanh là Pong và Pắng). Diễn tấu côồng chiêng của tộc Mường Phú Thọ khác với diễn tấu côồng chiêng Tây Nguyên về tính chất do vậy về giai tiết trong nghệ thuật diễn xướng trình tấu cũng khác, nó mang nặng mầu sắc nghi lễ tín ngưỡng được tuân thủ theo một bài bản cố định (không chấp nhận phần diễn tấu dư hứng) sau phần làm lễ tại các nhà lang (xin âm dương) thì phần trình tấu với được bắt đầu. Diễn tấu côồng chiêng gồm 4 bài (còn được gọi là 4 điệu)

+ Bài "Đi đường" theo nhịp độ chậm vừa phải, khoan thai, tiếng côồng chiêng ngân vang núi rừng, len lỏi vào các bản làng, thôn xóm báo hiệu ngày hội làng đã mở, để mọi người rủ nhau về với hội.

+ Bài thứ hai có tên gọi "Bông trắng, bông vàng" hay còn được gọi là "chờ tôi với đợi tôi cùng" bài côồng chiêng này có nhịp độ vừa phải tha thiết thể hiện tình cảm của nam nữ .Với nhịp côồng chiêng thánh thót ngân nga, mang theo cả ánh mắt, nụ cười của những đôi trai gái gọi nhau về chung vui trong ngày hội.

+ Bài thứ ba có tên "Chúc rượu" khi mọi người đã có mặt đông đủ trong ngày hội, trai làng gái bản, nam thanh nữ tú cùng nhau chúc rượu và hò hẹn trao duyên .Với nhịp  độ nhanh vui, tiết tấu rộn ràng màn hoà tấu đã được đẩy lên cao trào, tiếng côồng chiêng là tiếng lòng của những đôi trai gái thể hiện sự tâm đầu ý hợp.

+ Bài kết có tên "Dã bạn" là khi rượu nồng đã cạn, ngày vui đã tàn, hội đã tan, trai làng, gái bản chia tay nhau quyến luyến. Tiếng côồng chiêng lần lượt được gọi và đáp "nhịp gọi nhịp" đó là tiếng gọi nồng ấm tha thiết nhớ nhung, đoạn cuối tất cả cùng rung côồng chiêng và chào kết, họ chia tay nhau và hẹn ngày gặp lại.

Để dễ dàng cho việc truyền dạy nghệ thuật diễn tấu côồng chiêng các nghệ nhân dân gian đã sáng tạo ra cách ghi các bài đánh côồng chiêng theo các âm điệu sau:

1. Bài "Đi đường": Pắng poong pắng, pắng poong khình poong pắng poong khình

2. Bài "Bông trắng bông vàng" (chờ tôi với đợi tôi cùng)

Pắng poong pắng khình, poong pắng poong khình

Cồng đôi đánh xen cồng chót (lộn chiêng)

Pắng poong pắng poong pắng poong khình

3. Bài "Chúc rượu"

Pắng pắng poong poong poong khình poong poong pắng poong poong khình

4. Bài "Dã bạn"

Pắng pắng khình pắng khình pắng khình

Poong poong khình poong khình poong khình

Khình pắng khình pắng khình pắng khình

Khình poong khình poong khình poong khình

Tất cả các côồng chiêng tham gia diễn tấu đều được gọi một lần và cùng nhau đáp.

Hiện nay các cồng chiêng cổ chỉ còn rất ít ở các gia đình. Tỉnh Phú Thọ chỉ còn có 4 đội cồng chiêng của các xã Tất Thắng, xã Tân Lập huyện Thanh Sơn, xã Yên Mao, xã Phượng Mao huyện Thanh Thuỷ. Bốn đội cồng chiêng vẫn duy trì luyện tập phục vụ những ngày lễ, ngày hội ở địa phương và tham gia biểu diễn vào ngày giỗ Tổ hàng năm tại Đền Hùng, ngày hội văn hoá các dân tộc tỉnh Phú Thọ và ngày hội văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc. Khi mỗi độ xuân về, nhịp côồng chiêng lại vang ngân chào đón du khách thập phương, hành hương về miền lễ hội cội nguồn, để tri ân công đức các vua Hùng đã khai sáng nền văn hoá Việt Nam thuở bình minh mở nước.

Nguồn: Theo Cổng Giao tiếp điện tử Phú Thọ