ẢNH TƯ LIỆU

Danhsachhoivien

Tinh hoa đất tổ :: Văn Lang - mảnh đất của văn hóa dân gian

(nguoiphutho.com)Làng Văn Lang nay là xã Văn Lương, huyện Tam Nông từ xưa đã nức danh là làng nói khoác, làng cười. Chuyện cười của Văn Lang nổi tiếng, chẳng thế mà khi nhắc đến làng Văn Lang người ta nhớ ngay đến câu cửa miệng: "Văn Lang cả làng nói khoác". Đúng như câu nói chuyện cười Văn Lang "vắt qua thế kỷ", không ai biết chuyện cười Văn Lang có từ bao giờ, chỉ biết rằng những câu chuyện cười được truyền từ đời này qua đời khác
Trong kho tàng chuyện cười Văn Lang có những chuyện cổ, có những chuyện hiện đại, nhưng đa phần đều là những câu chuyện từ cuộc sống, gần gũi với người dân. Nghệ thuật phóng đại, nói quá để bật ra tiếng cười cộng với cách kể hóm hỉnh, kết thúc bất ngờ trong chuyện cười Văn Lang đã hấp dẫn người nghe. Bởi thế mới có chuyện rau dền ở Văn Lang tốt đến mức đứng trên ngọn rau dền nhìn thấy thủ đô Hà Nội hay cây bưởi sai quả đến nỗi con trâu buộc dưới gốc bưởi, trâu cọ lưng vào gốc bưởi, bưởi rụng chết cả trâu. Chất hài gần như đã ngấm vào người dân Văn Lang, đã là người Văn Lang hầu như ai cũng biết tếu táo. Những câu chuyện cười người dân kể cho nhau nghe trên đồng ngô ruộng lúa ấy là để giải khuây, xóa tan những mệt nhọc vất vả của mảnh đất đồi núi bán sơn địa này.

Đi sâu tìm hiểu mới biết Văn Lang không chỉ có chuyện cười mà còn có những loại hình nghệ thuật như chèo, tuồng. Không phải là mảnh đất gốc của chèo, tuồng nhưng con người Văn Lang vốn yêu nghệ thuật, có khiếu nghệ thuật nên những loại hình nghệ thuật này khi được khơi nguồn ở Văn Lang là có mạch nguồn để phát triển.

Theo lời các cụ cao niên thì hát chèo có ở Văn Lang cách đây gần 80 năm, còn tuồng thì hiện diện gần 50 năm. Ông Hán Duy Hùng - khu 4, xã Văn Lương là người từng có 4 năm theo học ở Nhà hát tuồng Việt Nam, một người am hiểu về nghệ thuật chèo, tuồng cho biết: "Chèo, tuồng có ở Văn Lang là do ông Hán Văn Chứ, một người dân địa phương truyền lại. Ông Chứ là người yêu nghệ thuật, có hiểu biết về nghệ thuật. Những vở chèo, tuồng mà Văn Lang diễn thời đó là do ông Chứ đi xem rồi ghi lại cốt tuồng, cốt chèo, và dựng vở, dựng vai". Vốn sẵn có năng khiếu nghệ thuật nên người Văn Lang bắt nhịp với những làn điệu chèo, nghệ thuật diễn xướng trong tuồng rất nhanh. Khi đó, những vở chèo cổ như Tấm Cám, Quan Âm Thị Kính, Trương Viên, Tống Trân Cúc Hoa... hay những trích đoạn tuồng, vở tuồng cổ như Ôn Đình chém Tá, Đổng Kim Lân phò thứ hậu qua đèo, Sơn Hậu... được diễn rất đạt. Trong hồi ức của người dân, vào những năm 60 của thế kỉ trước, Văn Lang thành lập được hẳn một đội văn nghệ chuyên diễn chèo, tuồng. Những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất cũng là thời kì mà chèo, tuồng phát triển mạnh mẽ. Đội văn nghệ của Văn Lang có đến ba chục người, ngày họ đi làm ruộng, tối về lại tập văn nghệ. Người nông dân chân lấm tay bùn nhưng khi bước lên sân khấu họ trở thành nghệ sĩ thực thụ. Những cụ già đã ở tuổi xưa nay hiếm khi được hỏi về nghệ thuật chèo, tuồng ở Văn Lang hồ hởi cho biết: Ngày ấy Mỹ ném bom ác liệt lắm nhưng người dân Văn Lang vẫn hát. Tối nào có văn nghệ diễn chèo, tuồng là dân làng nô nức đi xem. Mà thời buổi khó khăn, đèn điện chả có, phải lấy đuốc làm ánh sáng, sang lắm thì có đèn măng sông. Diễn viên tuồng phải lấy vôi, than để hóa trang. Thời ấy cơ cực nhưng đầy nhiệt huyết, tuy là diễn viên nghiệp dư song mọi người cũng tài năng lắm, đóng đủ các vai, Lưu Bình, Dương Lễ, Thị Mầu, Trương Viên... rồi đàn, sáo, nhị, các nhạc cụ cũng tự chơi và đủ cả đấy.

Các vở chèo, tuồng cổ ở Văn Lang đều dựa vào tích xưa rồi diễn lại, và đa phần là những câu chuyện lịch sử, ca ngợi những vị anh hùng phò vua giúp nước. Nghệ thuật chèo, tuồng đã bám rễ và phát triển một thời ở Văn Lang. Qua năm tháng cùng với những biến động của cơ chế thị trường, chèo và tuồng ở Văn Lang đến nay đã phần nhiều mai một. Chèo tuy vẫn còn duy trì trong các chương trình văn nghệ, trong các lễ, hội nhưng giờ do không đủ diễn viên nên chỉ diễn được những trích đoạn chèo. Còn tuồng gần như đã vắng bóng. Bởi nghệ nhân biết tuồng, hát tuồng người mất, người còn, và cũng không truyền lại được nhiều cho thế hệ sau. Thế hệ trẻ cũng không mấy ai còn thiết tha với điệu chèo, tuồng cổ của cha ông khi có nhiều luồng văn hóa du nhập. Ông Hán Duy Hùng bùi ngùi: "Nhiều khi nghĩ tôi cũng tiếc công sức của cha ông gây dựng nền móng cho nghệ thuật chèo, tuồng ở đây. Nhưng xã hội thay đổi thì nhịp sống cũng thay đổi theo. Có điều người dân Văn Lang vẫn yêu chèo, tuồng lắm, nghệ thuật ngấm vào máu rồi. Giờ mà có kinh phí đầu tư khôi phục thì chắc chắn chèo, tuồng ở Văn Lang không bị chìm vào quên lãng, bởi người Văn Lang có khiếu nghệ thuật rồi nên diễn viên tài năng không thiếu". Chắc chắn trăn trở của ông Hùng cũng là băn khoăn của rất nhiều người dân Văn Lang đã từng gắn bó với loại hình nghệ thuật dân gian này. Niềm đam mê chèo, tuồng chưa bao giờ vơi trong lòng người dân Văn Lang - những người mộ điệu. Yêu đời, yêu người, yêu nghệ thuật với cách sống lạc quan nên tiếng hát, câu chuyện cười Văn Lang còn vang mãi. Một làng quê nhỏ nhưng lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, những làn điệu chèo mượt mà đằm thắm, những thể hát khách, hát Nam ai trong tuồng, đến những câu chuyện cười từ cuộc sống hàng ngày vẫn còn âm hưởng cho tới ngày nay.

Nguyễn Thị Huế (Theo baophutho.vn)